Tâm lý những kẻ giết người hàng loạt

[Sách] TÂM LÝ NHỮNG KẺ GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠTInside the Minds of Serial Killers: Why They Kill- Katherine Ramsland

Sự nghiện ngập và kẻ giết người hàng loạt (trang 17-19)

Một số người tìm kiếm những trải nghiệm mãnh liệt chỉ để kích thích bản thân họ, và những tên tội phạm nào đó có thể được sinh ra với một nhu cầu muốn có kích thích lớn hơn người bình thường. Bác sỹ tâm thần Robert Simon nói, những hoạt động chống phá xã hội leo thang, cho thấy rằng chúng thoả mãn nhu cầu về sự kích thích. Trong thực tế, một số tên sát nhân nói rằng chúng cảm thấy bình thường ngay sau khi giết người. Do đó, chúng trở nên nghiện những kiểu thôi thúc có tính cưỡng bách của chúng, tương tự như những kiểu nghiện ngập khác.

Nhà tâm lý Stephen Giannangelo đồng ý với điều đó, ông nhận thấy, sự phấn khích của một cuộc hành hung hoặc cưỡng hiếp có thể thúc đẩy một người vượt qua giới hạn để thực hiện một vụ giết người. Những kẻ sát nhân thường sẽ nói rằng chúng không thể nhớ được những tình tiết của vụ giết người đầu tiên của chúng. Chúng có thể ý thức được sự nghiêm trọng của tội ác, nhưng chúng sẽ trải nghiệm được nièm vui từ việc khám phá ra “chúng thật sự cần điều gì.” Nếu chúng thoát khỏi những hậu quả của việc sát nhân thì chúng có thể cảm thấy tự tin, điều đó truyền cảm hứng cho chúng tìm kiếm sự phấn khích tương tự một lần nữa.

Giannangelo mô tả các cơ chế của nghiện, một quá trình phức tạp liên quan đến hoá chất thần kinh của não. Bộ não sáng tác và dàn dựng hệ thống xử lí thông tin của cơ thể, điều khiển hành vi của những chất dẫn truyền thần kinh. Ví dụ, Serotonin có ảnh hưởng đến tâm trạng. Khi chúng ta thấy mình đang ở trong một tình huống mới lạ thì mức dopamine và norepinephrine dâng lên, kích hoạt hệ thống phần thưởng của não. Do đó chúng ta tiếp cận với mong đợi rằng những tình huống và hành vi đó có thể làm chúng ta cảm thấy vui, …Dopamine đem lại một niềm vui sắc nét, khuyến khích chúng ta tìm kiếm nó lại lần nữa. Để đảm bảo điều đó, chúng ta bắt đầu chú ý đến kích thích đặc biệt đó nhiều hơn thường lệ. Nhờ chất dẫn truyền thần kinh này, chúng ta có một sự đầu tư sinh học trong những khuynh hướng không thể dự đoán được của cuộc sống.

Lý thuyết nổi bật về chức năng của dopamine chỉ ra rằng nó có liên quan trong việc giúp chúng ta tập trung, đặc biệt trong những tình huống bất thường. Đó là, khi một điều gì đó quan trọng xảy ra, sự phóng thích dopamine giúp chúng ta cảnh giác trước chất mới, để chúng ta có thể xử lý nó. Vì vậy sự mới lạ kích thích bộ não hành động và dopamine làm tăng sự rộn ràng vui sướng của việc còn sống và có lẽ là một yếu tố góp phần quan trọng vào những hoạt động giúp chúng ta học hỏi, phát triển và cảm thấy kiểm soát.

Nhưng bộ não cũng biết thích nghi. Dopamine theo dõi việc liệu chúng ta có thật sự nhận được thứ chúng ta mong đợi nhận được, và những mức độ dopamine theo đó tăng lên hoặc giảm xuống. Khi những mức độ dopamine giảm, con ngưởi tìm kiếm kích thích nhiều hơn và những con đường mới của phần thưởng. Thêm nữa, nghiên cứu chỉ ra những người có các thụ cảm dopamine ít hơn trong não thì tìm kiếm nhiều kích thích hơn và do đó dễ bị tổn thương trước sự nghiện ngập và việc tìm kiếm niềm vui mang tính cưỡng bách. Nói cách khác, nếu chúng ta nhận được nhiều, thì chúng ta kì vọng nhiều và do đó muốn nhiều.

Nếu vỏ não trước trán thất bại trong việc thực hiện chức năng như một người kiềm chế, dường như đó là trường hợp của những người có xu hướng bạo lực, ham muốn gia tăng và sự kiểm soát (bản thân) suy giảm có thể tạo điều kiện cho việc tìm kiếm phần thưởng. Đối với những người trở nên say mê với những kiểu bạo lực nào đó – và trải nghiệm phần thưởng lặp đi lặp lại trong những huyễn tưởng và hành động – họ cảm thấy hành động thì tốt hơn là kiềm chế thôi thúc có tính cưỡng bách. Người đó trở nên liều lĩnh hơn để theo đuổi nó. Nếu họ đã thành công trong việc có được trải nghiệm vui vẻ đó thì họ mong đợi có được trải nghiệm tương tự một lần nữa.

Nhưng nó không đơn giản như thế. Những quá trình thuộc cơ thể khác cũng ảnh hưởng đến sự dâng lên dopamine. Oxytocin có thể làm giảm tác động của dopamine…mức testosterone tăng cao cũng làm tăng sự sản sinh dopamine, và adrenaline có thể tăng lên trong những tình huống nguy hiểm.

Vì vậy để làm điều này trở nên rõ ràng đối với sự phát triển của một kẻ giết người hàng loạt, trong nghiên cứu khác, tôi đã đề xuất một sự liên hệ môi trường/ sinh lý học, con đường xoắn ốc của sự mê mệt với khoái lạc. Một người thấy một thứ gì đó gây kích thích, vd như đôi giày của phụ nữ, mái tóc đỏ hay xác chết động vật. Bộ não đáp ứng lại niềm vui, tiếp cận đối tượng gây phấn khích. Sau đó, người đó trở nên buồn chán và tìm kiếm kích thích đó nhiều hơn. Thêm nữa, đời sống tưởng tượng của người đó sẽ đầy ắp những hình ảnh đó và chúng lặp đi lặp lại trong một số kịch bản kích động. Người đó càng nhận được nhiều đối tượng đó thì anh ta sẽ càng phấn khích. Nhưng cuối cùng mức dopamine sẽ giảm, khiến anh ta cảm thấy trống rỗng và buồn chán trở lại. Chu kì này sẽ lặp lại…

Việc chìm đắm trong khoái cảm có được từ việc sát hại người khác thông qua các cơ hội thường nhật sẽ trở nên mạnh mẽ hơn qua những hành động kích thích những cơ chế phần thưởng của não. Hệ thống phần thưởng của não xử lý những hành vi đó theo một cách đảm bảo hành vi đó được lặp đi lặp lại.

Vì những hành vi đó liên quan đến tội ác nên người đó sẽ che giấu và phát triển một cuộc sống tưởng tượng sẽ khuyến khích họ thu mình khỏi cuộc sống đời thường và tìm kiếm sự kích thích và niềm vui lớn hơn từ những suy nghĩ riêng tư của họ. Họ sẽ sống cuộc sống hai mặt, cố sống một cách bình thường nhất có thể để ngăn không cho những người khác phát hiện ra những hành động đen tối hơn của họ, nhưng họ cũng tìm cơ hội để thực hiện hành vi đem lại niềm vui lớn nhất cho họ. Vì niềm vui đó có thể có nhiều hình thức khác nhau, bây giờ hãy đi vào cụ thể. Chúng ta sẽ bắt đầu với những tên sát nhân xem bản thân chúng như chúa. Chúng ta sẽ thấy lý thuyết này ra sao trong các trường hợp, mặc cho vô số những tưởng tượng và động cơ khác nhau của kẻ sát nhân.

——–

Sự phấn khích cao độ (trang 22)

Một số tên sát nhân nói rằng việc cướp đi một sinh mạng con người làm y cảm thấy mình như Chúa, có quyền lực đối với sự sống và cái chết. Còn một tội phạm khác thì đồng nhất bản thân y với Christ. Trong một số trường hợp, một tên sát nhân chỉ đơn giản là khinh thị đối với một kiểu người cụ thể nào đó và tin rằng đó là bổn phận tôn giáo của y phải giải thoát thế giới khỏi chúng. Động cơ đằng sau những vụ giết người đó là nhu cầu kiểm soát toàn bộ và niềm tin của kẻ sát nhân rằng y đặc biệt theo một số cách vượt trội, cao hơn người thường. Nhìn chung, những kẻ sát nhân đó là những người có tính tự yêu mình (narcissist) hoặc psychopath.

Sổ tay chẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ 4 đưa chứng rối loạn nhân cách yêu bản thân (NPD) vào nhóm B trên Axis II cùng với 3 chứng rối loạn khác có thể bộc lộ trong những hình thức hành vi vị kỷ cực đoan. Một chứng rối loạn nhân cách là một kiểu hành vi kém thích nghi kéo dài gây ra sự loạn chức năng trong các mối quan hệ hoặc trong công việc. Dù không phải tất cả những người mắc NPD đều là tội phạm thì NPD là chứng rối loạn được phát hiện thấy phổ biến nhất trong số các tội phạm tình dục. Họ cảm thấy có quyền lực đối với những nạn nhân của họ, và sự kiêu ngạo xoay quanh bản thân của họ góp phần vào cảm giác về tầm quan trọng cá nhân của họ. Những tên giết người hàng loạt như John Wayne Gacy và Ted Bundy dường như thực sự tin rằng dù chúng bị bắt giam vì chịu trách nhiệm cho nhiều vụ giết người và bằng chứng quan trọng chống lại chúng, thì chúng vẫn thoát khỏi sự trừng phạt.

DSM-IV liệt kê một số đặc điểm của NPD, một kiểu vĩ đại đáng chú ý nhất và nhu cầu được mọi người ngưỡng mộ quá mức. Người mắc NPD phải là trung tâm của sự chú ý và sẽ hy sinh việc “được người khác yêu thích” để “được người khác ngưỡng mộ”. Người như vậy sở hữu một mức độ quan tâm bản thân cao, nhưng họ lại đối xử với những người khác như những sinh vật thấp kém.

Người được chẩn đoán là có NPD có thể bộc lộ những đặc điểm sau

Tự cao tự đại về tầm quan trọng của mình
Ám ảnh với sức mạnh và thành công
Đòi hỏi sự ngưỡng mộ
Lợi dụng người khác để phục vụ cho những tham vọng của riêng họ
Ít quan tâm đến nhu cầu và cảm nhận của người khác
Tin rằng người khác ghen tỵ với họ
Bộc lộ những hành vi hoặc thái độ ngạo mạn

Dù nó không đúng khi chẩn đoán bất kì ai mà không trải qua những phương pháp đánh giá bao quát, thì ta cũng không khó để nhận ra trong những câu chuyện về những tội phạm mà chúng bộc lộ nhiều đặc điểm NPD. Chúng tự cho mình là trung tâm, bất an, không có khả năng học hỏi từ những góp ý có ích của người khác, và chúng biết làm thế nào để tìm thấy những phương tiện ghi nhận cho bất kì việc gì chúng làm. Những tên tội phạm yêu bản thân khi bị tóm sẽ nỗ lực để thu hút sự chú ý để làm bản thân trở thành tội phạm tài giỏi nhất trong lịch sử được chú ý. Thường thì chúng sẽ tự bào chữa cho bản thân vì không ai đủ năng lực để làm việc đó. Hoặc chúng sẽ chọn bất kì vai nào trong toà sẽ làm chúng được nổi bật nhất.

Trong Dark Dreams, Robert R. Hazelwood thảo luận làm thế nào mà những tên tội phạm yêu bản thân thường ghi lại những tội ác của chúng như một cách để hồi sinh chúng, nhắc nhở bản thân y về những việc y đã làm và y chế ngự người khác như thế nào. Tên tội phạm Paul John Knowles thì tin rằng ai đó nên viết một cuốn sách về y.

—–

CASSANOVA

Năm 1974, FBI lùng bắt một người đàn ông dường như đang gây ra một loạt vụ giết người ở miền đông nam Mĩ. Kẻ bị tình nghi là Paul John Knowles, được thả khỏi tù ở Florida nhờ luật sư của một trong những nữ phóng viên của Knowles- giờ là vị hôn thê của y. Nhanh sau đó, y tìm gặp cô ở San Francisco và bị cô huỷ hôn. Điều này làm Knowles nổi giận và sau đó y chọn 3 người ngẫu nhiên và giết họ. Sau đó y rời California.

Trong tháng tiếp theo ở Florida có thêm 3 người chết và y nhanh chóng giết 5 người, đôi lúc là cá nhân, lúc khác là các đôi vợ chồng. Y chọn trẻ em, phụ nữ lớn tuổi, đàn ông trẻ tuổi, già…Kiểu nạn nhân có vẻ không quan trọng đối với y. Từ Connecticut đến Georgia, y tiếp tục giết và cướp, đâm một người đàn ông bằng kéo và cướp quần áo và xe hơi của anh ta. Sau đó ở Atlanta, y gặp một nữ phóng viên người Anh tên Sandy Fawkes. Vì cô ấy là một nhà văn nên y đề cập chuyện ý có thể trở thành một chủ đề thú vị cho một cuốn sách. Qua nhiều ngày với cô, y bóng gió về việc y từng làm khiến y nổi bật, nhưng không thú nhận giết người. Y kể với cô là y muốn để lại một dấu ấn trong cuộc sống để y có thể được mọi người nhớ đến vì một điều gì đó.

Ý tưởng viết một cuốn sách về một người đàn ông xa lạ này có vẻ lố bịch đối với Fawkes, nhưng cô chiều theo y, nói y thử tìm hiểu tại sao y lại quá tự mãn. Y nói với cô y sẽ sớm bị giết vì một việc gì đó mà y từng làm. Y tin vào số phận và nói có những dấu ấn trên cơ thể y khẳng định là y sẽ chết trẻ. Y nói về thiên văn học và bài tarot và nói về quyển sách yêu thích của y là Jonathan Livingston Seagull kể về một con chim hải âu trở thành một nhân vật Christ, được tôn sùng và chửi rủa. Nhân vật chính đem đến thông điệp sống trọn vẹn với một nguyên tắc sống trẻ trước khi anh ta hoà vào hư vô.

Knowles đồng nhất bản thân với con chim này, cùng với những nhân vật siêu việt quan trọng khác và tin rằng y phải trở nên nổi tiếng như họ. Sau đó y và Fawkes chia tay và sau đó cô phát hiện ra nguồn gốc của sự chắc chắn của y về số phận của y. Chẳng có gì bí ẩn về nó cả. Trong thực tế, Knowles là đối tượng bị tình nghi trong nhiều vụ giết người và sau đó y bị tóm. Fawkes phát hiện y đã nói dối cô về nhiều chuyện, đáng chú ý nhất là độ tuổi của y. Y 28 tuổi, dù y từng nói với cô y 33 tuổi, độ tuổi mà Jesus Christ bị đóng đinh vào giá chữ thập. Rõ ràng là y đã đồng nhất bản thân với Christ và trong thực tế cha của Knowles là một thợ mộc như cha của Jesus.

Đối với hậu thế, như thể y chắc chắn rằng mọi người sẽ quan tâm, Knowles đã giao phó cho luật sư của y thu âm lại đoạn thú nhận về những tội ác của y. Trong cuốn băng, y khẳng định đã giết 35 người, nhưng chỉ có 18 vụ giết người qua 4 tháng được chính thức xác nhận là do y gây ra.

Knowles là một trong những tên sát nhân sử dụng hành vi giết người để cố vượt qua địa vị của họ như là “người vô giá trị.” Không giết chóc thì họ xem là không làm được gì và có thể bị xem như kẻ thất bại, nhưng khi họ được lên bìa báo thì họ tin họ bây giờ đã là “một ai đó”, một người đáng để được viết thành sách hoặc dựng phim.

Knowles thúc giục Fawkes lấy những băng ghi âm mà y đã làm và y đảm bảo với cô rằng nó sẽ trở thành cuốn sách quan trọng nhất cô từng viết. Trong thực tế, cuốn Killing time năm 1977 của Fawkes được tái bản năm 2005 và in lại là Natural born Killer. Mô tả của Fawkes về 6 ngày của cô với Knowles khẳng định y xem mình đặc biệt như thế nào, mặc cho tất cả bằng chứng cho thấy điều ngược lại. Thật không khó để xem y như một người mắc NPD.

(Còn tiếp)

Bình Luận