Tâm lý kẻ hãm hiếp

Tâm lý của kẻ phạm tội hãm hiếp, một trong những địa hạt đen tối nhất của bản năng tình dục của loài người, đang được phác hoạ với một độ chính xác mới khi các nhà khoa học tập trung nghiên cứu vào những tác động tâm lý điều khiển hành vi bạo lực tình dục.

Trong quá khứ, việc hãm hiếp bị xem là biểu hiện của một thôi thúc tình dục tràn ngập, mà phụ nữ có thể gây ra bởi hành vi hoặc ăn mặc khiêu khích; gần đây hơn, nó từng được miêu tả như hành động bạo lực chống lại phụ nữ, biểu hiện qua tình dục. Hiện nay, các phát hiện mới cho thấy có nhiều kiểu tội phạm hãm hiếp và hành vi bạo lực và tư tưởng dâm dục có những mức độ khác nhau ở mỗi kiểu.

Nghiên cứu mới cho rằng chỉ một thiểu số những kẻ phạm tội hãm hiếp là những tên tội phạm tình dục bị thúc đẩy bởi những huyễn tưởng ác dâm hoặc căm ghét phụ nữ, và phổ biến hơn là những người đàn ông với một khuynh hướng tình dục bình thường đã hãm hiếp một cách bốc đồng khi có cơ hội, thường xảy ra trong một cuộc hẹn hò.

Trong một cuộc khảo sát năm 1987 với 3,187 nữ sinh đại học, 15% nói họ từng bị hãm hiếp. “Tám trong 10 người nói họ quen biết người đàn ông đã cưỡng hiếp họ, và 56% số vụ hãm hiếp xảy ra trong một cuộc hẹn,” tiến sỹ Mary Koss, nhà tâm lý ở đại học University of Arizona Medical School ở Tucson.

Vụ án của William K. Smith, bị buộc tội hãm hiếp một người quen trong năm nay ở gia đình Kennedy ở Palm Beach, Fla., đã làm tăng thêm hứng thú trong nghiên cứu về hãm hiếp. Nhưng các chuyên gia cảnh báo rằng các phát hiện mới có liên quan đến toàn thể đàn ông và không có ý miêu tả bắt kỳ trường hợp riêng biệt nào.

Các phát hiện mới là một phần của làn sóng gần đây của các nghiên cứu theo lối kinh nghiệm của tâm lý học về sự hãm hiếp đang thay thế một bức tranh không đồng đều mà phần lớn được dựa vào những thông báo lặt vặt. Một số dữ liệu thuyết phục nhất về những yếu tố tâm lý có thể làm cho quan điểm về hãm hiếp lôi cuốn từng nảy sinh từ những đo lường sinh lý của sự kích thích tình dục ở đàn ông trước những miêu tả về những cuộc quan hệ tình dục.

Các phát hiện xác minh rằng phần lớn đàn ông thường không bị kích thích tình dục bởi những miêu tả về bạo lực tình dục. Nhưng ở những hoàn cảnh nhất định, như tức giận trước một phụ nữ, có thể thay đổi điều đó. Và dù khả năng bị kích thích tình dục bởi bạo lực tình dục không chỉ ra rằng một người đàn ông là một kẻ phạm tội hãm hiếp tiềm tàng, thì nó lại là một khả năng mà một kẻ phạm tội hãm hiếp thành công phải có.

Sử dụng một thiết bị được gọi là “penile plethysmograph” các nhà nghiên cứu có thể đo dòng máu đến cơ quan sinh dục của một người đàn ông khi anh ta xem hoặc nghe những cảnh tình dục. Bằng cách thay đổi có hệ thống nội dung của những cảnh đó, các nhà nghiên cứu có thể phát hiện một cách chính xác những chi tiết nào khiến cho cảnh đó kích dục ít hoặc nhiều.

“Đối với đa số đàn ông, nghe một miêu tả của một cuộc làm tình ở đó người đàn ông cưỡng bức phụ nữ quan hệ, và người phụ nữ đó đang đau đớn hoặc đau khổ, làm cụt hứng tình dục của họ khoảng 50% so với mức độ hưng phấn tình dục trong suốt một cảnh làm tình được chấp thuận,” Howard Barbaree nói, nhà tâm lý học ở trường Queen’s College ở Kingston, Ontario, ông cũng là giám đốc của một chương trình điều trị cho những tội phạm tình dục.

Bạo lực như chất ức chế tình dục

“Thông thường, bạo lực gây ức chế tình dục ở đàn ông,” tiến sỹ Barbaree nói. “Lưu lượng máu mất 50% có nghĩa là một người đàn ông sẽ không thể thâm nhập một phụ nữ.”

Khi các tình nguyện viên cho nghiên cứu phản ứng trước những cảnh quan hệ tình dục chấp thuận và quan hệ tình dục bị cưỡng bức trong nhiều ngày, thì sự mất hứng thú tình dục trước những mô tả về tình dục bị cưỡng bức trở nên lớn hơn qua mỗi ngày, Barbaree phát hiện.

Nhưng điều đó không đúng với những người đàn ông từng bị kết tội hãm hiếp. Và khoảng 10% những kẻ hãm hiếp – kể cả những kẻ từng hãm hiếp số lượng lớn nạn nhân — ham muốn tình dục mạnh hơn rõ rệt trước cảnh hãm hiếp hơn là cảnh tình dục được chấp thuận, Barbaree nói. Thật vậy, trong nghiên cứu với những kẻ hãm hiếp bị kết tội, tiến sỹ Gene Abel, một bác sỹ tâm thần ở đại học Emory University, phát hiện thấy một kẻ phạm tội hãm hiếp càng trở nên ham muốn trước những cảnh tình dục hãm bức, thì số nạn nhân của y càng lớn, và các nạn nhân có nhiều khả năng chịu đựng những tổn thương cơ thể nhiều hơn.

Trong một loạt thực nghiệm, tiến sỹ Barbaree và các cộng sự của ông nghiên cứu về những trường hợp nào có thể làm cho những kiểu ham muốn tình dục của những người đàn ông bình thường trông giống như của những kẻ phạm tội hãm hiếp. Trở nên tức giận trước một phụ nữ, tiến sỹ Barbaree phát hiện, là một trường hợp như thế.

Những người đàn ông nghĩ rằng họ đang tham gia vào một nghiên cứu về những tác động của tập thể dục lên ham muốn tình dục được yêu cầu đạp trên một máy đạp xe càng nhanh càng tốt trong một phút. Sau khi họ đạp xong, một phụ nữ trẻ cấu kết với thực nghiệm viên bước vào phòng, có vẻ đang chạy việc vặt, chú ý đến việc đạp xe của người đàn ông, và đưa ra một lời nhận xét có tính xem thường: “Anh chỉ có thể đạp được chừng này thôi à? Tôi đã đạp được nhiều hơn thế trong sáng nay.”

“Rồi thì khi những người đàn ông đó đi vào phòng thực nghiệm, họ đã có mức độ kích thích tình dục trước việc hãm hiếp tương tự như trước tình dục được chấp thuận,” tiến sỹ Barbaree nói.

Trong những thực nghiệm khác, tiến sỹ Barbaree cũng phát hiện thấy những người đàn ông có nhiều khả năng bị kích thích tình dục khi xem một cảnh cưỡng hiếp nếu họ đã uống rượu hoặc nếu họ tin rằng người phụ nữ “yêu cầu nó”.

Lý thuyết bị thách thức

Barbaree xem phương pháp nghiên cứu này là bác bỏ lý thuyết khoa học từng xem những kẻ phạm tội hãm hiếp là độc đáo duy nhất vì có một sở thích tình dục kết hợp giữa bạo lực và ham muốn tình dục. “Với sự kết hợp đúng đắn của các yếu tố thì đa số đàn ông có thể bị kích thích tình dục bởi tình dục mang tính bạo lực,” Barbaree nói.

Nhưng sự pha trộn đó của các yếu tố tâm lý có thể không đủ để thiết lập nên giai đoạn tâm lý của việc hãm hiếp, theo quan điểm của Barbaree và các nhà nghiên cứu khác.

“Những kẻ phạm tội hãm hiếp thường làm sống lại cơn giận mãnh liệt, trầm cảm hoặc cảm thấy mình vô giá trị trong nhiều ngày hoặc thậm chí nhiều tháng chuẩn bị cho việc hãm hiếp,” Barbaree nói. “Những kẻ phạm tội hãm hiếp rất thường hay nói rằng yếu tố kích thích việc hãm hiếp là khi một phụ nữ làm họ nổi giận, thường là bởi sự cự tuyệt trước một lời đề nghị làm tình. Những người đàn ông đó xem sự cự tuyệt như một sự xúc phạm đến sự nam tính của họ đã làm tăng cường nỗi đau khổ của họ.”

Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng không có một công thức tâm lý duy nhất nào giải thích cho mọi kẻ phạm tội cưỡng hiếp. “Có một sự khác biệt lớn giữa những người đàn ông bị bắt vì tội cưỡng hiếp,” tiến sỹ Robert Prentky, giảng viên tâm lý học ở trường Boston University Medical School. Prentky đã phát triển một loại hình học dựa trên một phân tích máy tính cấp cao của những đặc điểm của gần 300 kẻ phạm tội cưỡng hiếp. Các kết quả ban đầu được đăng vào năm 1988 trên The Annals of the New York Academy of Sciences.

Kiểu phổ biến nhất là “kẻ cơ hội” mà hành vi hãm hiếp của hắn mang tính bốc đồng, Prentky phát hiện. Trong số những kẻ hãm hiếp bị kết tội, 23% rơi vào loại này, dù Prentky tin rằng những kẻ hãm hiếp cơ hội đó rất phổ biến trong số những kẻ hãm hiếp chưa bao giờ bị phát hiện hoặc bị kết tội. “Đối với kẻ cơ hội, một cuộc hãm hiếp là một phần của kiểu phạm tội bốc đồng lớn hơn,” Prentky nói.

Yếu tố trong Bị hãm hiếp bởi người quen

Những kẻ hãm hiếp người quen rơi vào loại này, và những người đàn ông phạm tội hãm hiếp người quen cũng có khuynh hướng thực hiện những hành vi bốc đồng trái pháp luật khác.

Người đàn ông bận tâm với một huyễn tưởng tình dục, mà họ cố thực hiện chúng trong cuộc hãm hiếp, là một kiểu hãm hiếp phổ biến khác, Prentky phát hiện, cấu thành 25% của những kẻ hãm hiếp bị kết tội. Những người đàn ông đó thường bị thúc đẩy bởi một huyễn tưởng lãng mạn kỳ quái mà họ ép buộc một phụ nữ quan hệ tình dục, và sau đó cô ấy bắt đầu yêu họ. “Những người đàn ông đó thường bị bắt vì họ cố gắng hẹn hò để gặp lại nạn nhân của họ, và sẽ cho biết một địa điểm và thời gian gặp mặt,” Prentky nói.

Những kẻ hãm hiếp ít gây hấn nhất, những gã đó có nhiều khả năng bỏ chạy nếu một phụ nữ chống cự mạnh. Và trong những vụ hãm hiếp đó, ví dụ, “kẻ hãm hiếp sẽ cởi áo khoác của y và trải xuống đất cho nạn nhân nằm lên,” ông nói.

Mang tính bạo lực nhiều hơn là 32% số kẻ hãm hiếp bị kết tội được xếp vào kiểu “báo thù”. “Những cuộc hãm hiếp của họ làm tổn thương cơ thể và mục đích của họ là làm giảm giá trị và làm nhục phụ nữ,” Prentky nói. “Họ là những kẻ ghét phụ nữ.”

Tương tự là 11% số kẻ hãm hiếp có động cơ là tức giận với thế giới. Nhưng không giống như những kẻ hãm hiếp-căm ghét phụ nữ, những người đàn ông đó tức giận với đàn ông và phụ nữ như nhau; họ có thể gây ra tổn thương cơ thể nhiều nhất lên các nạn nhân của họ.

“Họ gây chuyện với đàn ông và hãm hiếp phụ nữ,” Prentky nói. “Họ không giống như những kẻ phạm tội hãm hiếp khác ở chỗ họ có một quá khứ dài phạm đủ loại tội bạo lực, từ những cuộc đánh nhau trong quán bar cho đến hành hung cảnh sát.”

Những kẻ ác dâm là kiểu hiếm nhất, chỉ chiếm 8% trong số những kẻ hãm hiếp bị kết tội. Những người đàn ông đó bị ám ảnh với những huyễn tưởng ác dâm, mà việc hãm hiếp của họ là phương tiện. “Đối với kẻ ác dâm thì nỗi sợ hãi của nạn nhân là một sự kích thích tình dục,” Prentky nói.

Vai trò của bạo lực

Nhưng nghiên cứu khác cho rằng bạo lực là động cơ thúc đẩy hành vi của kẻ hãm hiếp nhiều hơn là tư tưởng dâm dục. Trong một nghiên cứu được cấp tiền bởi Viện sức khoẻ tinh thần quốc gia, các nhà tâm lý có thể đo được những kiểu kích dục của khoảng 200 đàn ông trong lúc họ còn ở độ tuổi đại học, và 10 năm sau họ phỏng vấn những người đàn ông đó, và 52 người bạn gái hoặc vợ của họ.

“Nếu những người đàn ông bị kích thích tình dục bởi những cảnh cưỡng hiếp khi họ ở độ tuổi thời đại học, thì sau đó họ rất có thể ở độ tuổi 32 sử dụng bạo lực với vợ hoặc bạn gái của họ để buộc cô ấy quan hệ tình dục dù cô không muốn,” tiến sỹ Neil Malamuth, nhà tâm lý học ở đại học University of Michigan, người thực hiện cuộc nghiên cứu nói.

Trong một cuộc khảo sát quốc gia với 2,652 đàn ông, tiến sỹ Malamuth phát hiện thấy những người thú nhận từng cưỡng bức tình dục phụ nữ có xu hướng có một mối quan hệ đối địch, không thân thiện với phụ nữ nói chung. “Những người đàn ông đó cảm thấy họ phải nắm quyền kiểm soát trong những mối quan hệ của họ với phụ nữ, thậm chí trong cuộc trò chuyện,” tiến sỹ Malamuth nói.

Những mối liên kết với thời thơ ấu

Những người đàn ông thuộc kiểu này có nhiều khả năng thông báo về một bầu không khí bạo lực gia đình hoặc từng là nạn nhân của lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu của họ, tiến sỹ Malamuth phát hiện. Cũng như thế, 56% trong số những kẻ hãm hiếp bị kết tội từng là nạn nhân của lạm dụng tình dục thời thơ ấu, theo một nghiên cứu năm 1988 của nhà nghiên cứu Ann Burgess, ở đại học University of Pennsylvania. Các nhà nghiên cứu nói các phát hiện cho thấy những người đàn ông càng bị bạo hành khi còn bé thì họ càng có nhiều khả năng cưỡng hiếp phụ nữ khi trưởng thành.

Thêm nữa, những người đàn ông đó thường “tán thành những điều hoang đường về việc hãm hiếp như quan điểm cho rằng nếu bạn quen biết người phụ nữ, thì nó không phải là hãm hiếp,” tiến sỹ Koss nói, người tiến hành cuộc khảo sát với tiến sỹ Malamuth. “Họ cũng có nhiều khả năng giao du với những người đàn ông khác xem phụ nữ như những đối tượng tình dục.”

Bình Luận