Tại sao chúng ta hay tự dối mình?

Hành động tự đánh lừa bản thân (self-deception: tự dối mình) bao hàm sự thiếu tương đồng giữa niềm tin, hành động, và thế giới.

“Không có gì quá khó để không tự đánh lừa mình” – Ludwig Wittgenstein

Hành động tự đánh lừa mình thường dễ nhận ra ở người khác nhưng rất khó nhận ra ở bản thân chúng ta.  Đối với người khác, chúng ta có thể có một cái nhìn rõ ràng hơn mà không cần đầu tư vào việc nhìn thấy cá nhân đó hoặc hoàn cảnh của họ theo một quan niệm nào đó. Đối với bản thân chúng ta, chúng ta thiếu đi cái nhìn và sự đầu tư để nhìn thấy bản thân và hiểu được bản thân cũng như hoàn cảnh của chúng ta theo những cách nào đó.  Sự thiếu vắng tầm nhìn phối hợp với nhu cầu và sự mong muốn nhìn thấy bản thân và hoàn cảnh của chúng ta theo những cách nào đó là lý do tại sao sự tự đánh lừa bản thân tỏ ra khá nguy hiểm và làm mất nhuệ khí nếu nó đã ăn quá sâu hoặc lan đi quá nhiều hướng.

Hành động tự đánh lừa mình có nhiều lớp vỏ che đậy, mà điều này cũng góp phần làm cho nó khó bị nhận diện.  Có nhiều hình thức quen thuộc của sự phủ nhận, sự hợp lý hóa(rationalization), và sự tối thiểu hóa (minimization).  Nhưng nói một cách chính xác thì tự dối mình là gì.

Một định nghĩa sơ bộ: Sự tự dối mình là một tập hợp các hành động và thái độ mà nó ngăn cản một người đánh giá khách quan tình huống của mình.  Kết quả là, người đó không thể nhận ra tác dụng của chính mình và thường không hiểu được đâu là trách nhiệm chính đáng và đâu là không phải.

Tự đánh lừa bản thân có thể là một hành động cố ý.  Nó cũng có thể là một hành động không cố ý.  Ranh giới giữa hai hành động này không rõ ràng; chúng có thể thay đổi qua lại.  Hướng thay đổi thường thấy là từ cố ý chuyển sang không cố ý.  Trong một số tình huống, cố ý tự dối mình có thể là cần thiết và giúp giữ được tính mạng.

Hai trường hợp hoàn toàn khác nhau về hai dạng tự đánh lừa mình sẽ làm sáng tỏ các đặc điểm này.  Trường hợp đầu tiên liên quan đến sự phủ nhận.

Hãy lấy trường hợp của một người đang gặp phải điều gì đó đau buồn chẳng hạn như vấn đềbạo hành trong gia đình (domestic abuse).  Người phụ nữ này có thể tự an ủi mình rằng sự bạo hành trong gia đình thực sự không xảy ra hoặc tạo cho nó một ý nghĩa hoàn toàn khác.  Ở một mức độ nào đó, bà có thể biết rằng điều này thực sự đang xảy ra nhưng bà phủ nhận vì sự sinh tồn hoặc muốn giữ gìn hạnh phúc gia đình của bà.  Bà có thể trở nên quen thuộc với việc nói với bản thân cùng một câu chuyện về những gì đã xảy ra; đó là cách duy nhất để tạo ra ý nghĩa cho những gì bà đang trải qua.  Theo thời gian, ý thức tự bảo vệ bản thân có thể lùi sâu vào hậu cảnh.  Sự tự đánh lừa bản thân của bà chuyển từ cố ý sang không cố ý.  Trong trường hợp này, có một sự đầu tư rõ rệt trong việc không nhìn nhận rằng bà đang bị bạo hành.  Cũng như thường thấy trong các trường hợp bạo hành, nạn nhân thường hiểu sai về những gì họ có thể hoặc không thể làm; họ không nhìn thấy nơi kết thúc hành động của họ và nơi bắt đầu hành động của người bạo hành họ.  Nạn nhân có thể tin rằng họ có thể kiểm soát được tình huống để người bạo hành không thể bắt đầu.  Và đối với một số nạn nhân, họ có thể cho rằng họ phải chịu một phần trách nhiệm về những gì những người khác đang đối xử với họ.

Trong trường hợp này, hành vi tự đánh lừa mình có thể thích đáng và có lợi ở một mức độ nào đó, và cùng lúc, nó có thể nguy hiểm và làm giảm nhuệ khí.  Trường hợp tự đánh lừa này tạo ra một liên kết đôi mà khó có thể thoát ra.

Trường hợp thứ hai liên quan đến thái độ chần chừ (procrastination), một dạng tự đánh lừa hết sức phức tạp.  Lấy trường hợp của một người đàn ông, và người này biết rằng ông đang mắc phải một chứng rối loạn sử dụng thuốc (substance use disorder – SUD).  Người này có thể mô tả một cách rõ ràng chu kỳ uống của mình, tăng dung nạp, và các cảm giác ngưng sử dụng chất gây nghiện cũng như lập biểu đồ các tác dụng phụ gây hại do việc uống rượu bia gây ra.  Người này đã làm rất nhiều bài kiểm tra trên mạng và nói với bạn bè rằng ông biết mức độ uống của bản thân đã tiến triển thành rối loạn phát triển toàn diện.  Ông biết ông bị nghiện rượu bia và nói rằng ông cần phải làm một điều gì đó để thay đổi hiện trạng này.  Hôm nay, ông tự hứa với lòng rằng ông sẽ đi khám bác sĩ vào ngày mai.  Ngày mai ông lại hứa một lần nữa.  Trường hợp này được gọi là thái độ chần chừ.

Thái độ chần chừ là một sự thất bại trong mối quan hệ giữa kiến thức và ý chí, theo Soren Kierkegaard.  Kiến thức sẽ dẫn dắt những hành động của chúng ta nhưng khi chúng ta biết những gì chúng ta nên làm và không sẵn lòng thậm chí chỉ trong một khoảnh khắc, thì sẽ xuất hiện một kẽ hở.  Một khoảnh khắc do dự trong nháy mắt có thể phát triển thành một loạt những khoảnh khắc chần chừ không chịu hành động.

Thái độ chần chừ là một hành động mang tính đánh lừa bởi vì nó giả vờ như đang hành động.  Người đàn ông hứa sẽ đi khám bác sĩ có thể nói với bản thân rằng ông đang tìm kiếm thêm thông tin, sắp xếp mọi thứ theo thứ tự, tiến hành tổ chức mọi thứ, và vân vân.  Ông có thể tiếp tục suy nghĩ về những sự cân nhắc mà ông có thể có khả năng nhận diện.  Lặp đi lặp lại nhiều lần.  Ông có thể bắt đầu tự bịa đặt ra những mối lo ngại khác cho phép sự cân nhắc.  Ông có thể nói với mọi người trong gia đình và bạn bè mọi thứ ông đang làm.  Tuy nhiên, cho đến cuối ngày ông vẫn không đi khám bác sĩ.

Người đàn ông này có một sự đầu tư trong việc nhìn thấy bản thân như một kiểu người biết làm một điều gì đó để giải quyết vấn đề.  Thậm chí ông có thể cho rằng mình là một kiểu người sẵn sàng đối diện với những thử thách khó khăn.  Ông cố gắng làm nhiều thứ.  Thật vậy, ông có thể là một người nóng vội thu thập các dữ kiện và “giải quyết vấn đề”.  Nhưng tất cả những hoạt động này có thể rất khó để nhìn thấy một cách chính xác tình huống của ông; ông vẫn chưa đi khám bác sĩ.  Ông không sử dụng hành động của mình một cách hiệu quả, từ đó có nghĩa là ông vẫn chưa thi hành trách nhiệm một cách đầy đủ.

Theo Kierkegaard, sự chần chừ cũng giống như khâu vá quần áo mà không thắt nút chỉ khi kết thúc công việc.  Một người biết tiến hành hành động nhưng không thực sự khâu vá.

Theo: LQT biên dịch

Bình Luận